Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao Con cò mà đi ăn đêm, …

Từ bao đời nay, con cò gần gũi, thân thiết với người nông dân đã trở thành hình tượng quen thuộc trong ca dao. Mỗi khi nhắc đến con cò, ta thường liên tưởng đến người phụ nữ Việt Nam chịu thương chịu khó, tận tụy suốt đời vì chồng con.

Con cò mà đi ăn đêm,

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

Ông ơi ông vớt tôi nao,

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.

Có xáo thì xáo nước trong

Đừng xáo nước đục đâu lòng cò con.

Người xưa quả thật rất khéo léo và tài tình khi dùng hình ảnh con cò nói lên thân phận người lao động nghèo khổ thời bấy giờ. Chú cò tâm sự lúc gặp nạn cùng với quan niệm “Thà chết trong còn hơn sống đục” vẫn được giữ cho đến nay.

Mở đầu bài ca dao là những câu từ đậm cảm xúc buồn thương. Từng câu chữ kể về thân phận và cảnh ngộ éo le của một con cò mà vì đi kiếm mồi cho con mà cò mẹ bị lâm nạn. Thế nhưng, nó lại có sức lay chuyển và gợi cho ta liên tưởng tới thân phận của người phụ nữ lao động nghèo khổ, lam lũ:

Con cò mà đi ăn đêm,

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

Con cò đi kiếm ăn trong hoàn cảnh đặc biệt nhưng không may gặp rủi ro và lâm nạn. Từ hình ảnh cò mọ lặn lội tìm mồi để nuôi đàn cò con bé bỏng, người xưa đã ngầm so sánh với sự tần tảo, đảm đang của người phụ nữ. Trước mắt chúng ta bỗng nhiên hiện lên hình ảnh những người vợ, người mẹ phải tất tả giữa dòng đời xuôi ngược để lo toan cơm áo cho cả gia đình. Bởi vì, theo lẽ thường tình, con cò chỉ kiếm ăn vào ban ngày chứ không phải ban đêm như loài vạc. Ấy thế mà bây giờ nó lại kiếm ăn ban đêm- điểu trái với tập tính của loài cò. Vậy tại sao cò mẹ lại phải làm như vậỵ? Bởi vì quá nghèo, kiếm ăn ban ngày gia đình cò không đủ để tồn tại nên đành phải kiếm ăn cả ban đêm. Người đọc đã thương cảm, cuốn hút ngay khi đọc câu mở đầu.

Các tác phẩm dân gian khai thác triệt để những điều đặc biệt. Tình cảnh của cò mẹ trong hai câu đầu chỉ là cái nền để thể hiện một cách tinh tế, sâu sắc những điều người xưa muốn nói qua ngôn ngữ trực tiếp của nhân vật trong bốn câu sau. Đến đoạn sau mới đẩy mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm, thành một bi kịch thương tâm gợi cảm xúc xót xa trong lòng người đọc.

Ông ơi! ông vớt tôi nao,

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.

Có xáo thì xáo nước trong,

Đừng xáo nước đục đau lòng cò con

Tiếng kêu ai oán, thê lương của con cò, khi bị gặp nạn khiến người nghe cảm thấy xót thương. Ai ai cũng thương cho thân phận một chú cò, cần cù chăm chỉ nhưng chẳng may gặp cuộc sống khó khăn, gặp nạn bất ngờ. Đặc biệt, điệp từ “ông” được nhắc lại trong bài thơ này rất nhiều lần càng thể hiện sự bi thảm của bài ca dao. Con cò đang trông mong có một thế lực nào đó giúp đỡ mình. Một người có đủ sức mạnh để có thể giúp chú cò khốn khổ thoát cảnh bi ai. Thực ra, lời con cò nói cũng chính là lời cầu cứu của người dân lao động với những người có thế lực trong xã hội cũ. Mong rằng họ sẽ giúp đỡ cuộc sống nghèo khổ bi thương của những người nông dân lao động.

Trong lời phân trần này, con cò không sợ chết mà cò muốn đem cái chết để chứng minh cho tấm lòng trong sạch khi sa vào đường cùng ngõ cụt. Cò đi ăn đêm, nhưng cò không phải là kẻ bất lương, cò hiền lành và lương thiện. Lời kêu cứu của mình, con cò còn muốn phân trần về những mong muốn của mình. Cò muốn được chết một cách trong sạch, giữ được thanh danh phẩm hạnh của mình trước cảnh sa cơ, hoạn nạn.

Từ những lời than thân của số phận và cầu cứu chú cò, chúng ta thấy được triết lý sống nhân sinh vô cùng cao đẹp của người xưa. Đó là là thà chết vinh còn hơn sống nhục, giấy rách phải giữ lấy lề của truyền thống cha ông ta chưa bao giờ phai mờ. Trải qua hàng ngàn năm, người nông dân Việt Nam đã đổ mồ hôi công sức vất vả làm ăn. Làm ra hạt gạo, củ khoai nuôi sống bản thân nhưng thực ra thân phận của họ chẳng khác nào thân phận con cò trong bài ca dao này. Đã có những câu tục ngữ nêu lên cách ứng xử: Đói cho sạch, rách cho thơm hay Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Qua thân phận con cò, tác giả dân gian đã nêu lên một triết lý nhân sinh tuyệt đẹp ca ngợi tâm hồn trong sáng nhân hậu thà chết trong còn hơn sống đục. Trong và đục tương phản nhau, lời nguyền khẳng định một lẽ sống cao đẹp của người Việt Nam xưa và nay.