Phân tích truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O Hen-ri

Nói đến văn học Mỹ, người đọc thế giới thường nhắc tới O.Henry như một trong những tác giả viết truyện ngắn có duyên nhất. Với một vốn sống phong phú, O.Henry đã sáng tác hơn bốn trăm truyện ngắn và góp vào nền văn học Mỹ một tiếng nói rất riêng. Văn chương của O.Henry nhẹ nhàng, ngắn gọn đến mức sắc sảo. Rất nhiều tác phẩm của O.Henri có những kết thúc bất ngờ, gây sửng sốt cho người đọc. Bạn có thể tìm thấy trong văn chương O.Henri những tội phạm, thế giới của người vô gia cư, cuộc sống phiêu lưu của những kẻ cao bồi hay dòng người đi tìm vàng cho đến cuộc sống giàu sang của thành phố New York… Bạn sẽ ngạc nhiên khi vừa đọc một câu chuyện có vẻ như bông đùa về tình yêu, về lòng tốt – bởi một sự ngẫu nhiên rất bi hài, thì lại cũng gặp những áng văn khác đầy cảm động về lòng bao dung của con người… Tiêu biểu như Chiếc lá cuối cùng – tác phẩm cảm động này được dịch ra rất nhiều thứ tiếng, có mặt trong nhiều cuốn sách giáo khoa tại nhiều trường học trên thế giới.

Truyện lấy bối cảnh ở khu Greenwich Village, Manhattan, New York, Hoa Kì. Truyện kể về Xiu và Giôn-xi – hai nữ họa sĩ trẻ tuổi và cụ Bơ-men – một họa sĩ già cùng sống trong một khu nhà trọ. Cả đời cụ khao khát làm nên một kiệt tác nhưng chưa thực hiện được. Mùa đông năm ấy, Giôn-xi mắc bệnh viêm phổi rất nghiêm trọng. Một địa điểm nhỏ, phố xá nhằng nhịt không có lối ra rõ ràng. Hầu như khu công viên nhỏ này bị một màn xám bao phủ, vây quanh. Nó đã làm cho cuộc sống của những con người như Xiu, Giôn-xi và bác Ba-men thiếu sinh khí. Cách nói rất hình ảnh của tác giả đã cho ta cảm nhận được cái nghèo nàn, đạm bạc của những con người ở đây.

Giôn-xi bị sưng phổi nặng. Vì nghèo không có tiền thuốc thang nên cô buồn bã không thiết sống nữa. Mặc cho Xiu chăm sóc, động viên, Giôn-xi cứ nằm quay mặt ra phía cửa sổ, nhìn những chiếc lá thường xuân rụng dần từng chiếc một. Mỗi lần có chiếc lá rơi, cô lại cảm thấy mình gần cái chết thêm một chút. Ở đây hầu hết là giới nghệ sĩ chung sống với nhau. Họ phải bỏ tiền ra thuê những căn phòng tối om và vẽ những bức vẽ bình thường đổ kiếm sống. Họ chăm chỉ làm ăn là thế mà nghèo vẫn hoàn nghèo, thiếu thốn vẫn hoàn thiếu thốn. Những hoạ sĩ như Giôn-xi, Xiu, Bơ-men trong ý thức họ vẫn muốn hẹn một cuộc sống tốt đẹp, một tương lai sáng lạn. Thế nhưng cơ hội lại chưa mỉm cười với họ.

Mùa xuân, cây cỏ mọc mầm nhú là xanh. Mùa đông lạnh lẽo, lá úa vàng, lá rụng, đó là quy luật tự nhiên, quy luật của sự sống. Chiếc lá thường xuân cuối cùng nhất định sẽ rụng xuống bất cứ lúc nào khi nào – khi mưa rơi tuyết sa trong gió lạnh. Cụ đã làm cho chiếc là thường xuân trở nên bền bỉ và dũng cảm “chẳng bao giờ rung rinh hoặc lay động khi gió thổi”. Cụ Bơ-men với chiếc đèn bão, chiếc thang, vài chiếc bút lông, một bảng pha màu có màu xanh và màu vàng trộn lẫn đã sáng tạo nên chiếc là thường xuân kì diệu đó.

Chiếc lá thường xuân cuối cùng là “kiệt tác của cụ Bơ-men” để lại cho đời. Chiếc lá đó đã cứu sống nữ họa sĩ trẻ Giôn-xi. Và chỉ hai ngày sau khi vẽ nên bức họa kiệt tác đó, cụ Bơ-men đã chết vì sưng phổi. Hành động của cụ Bơ-men thật cao cả. Cụ đã ra đi trong thầm lặng, nhưng cái chết của cụ đẹp như một bài ca. Hình ảnh chiếc lá lúc này vẫn kiên cường đứng nương vào vách mặc dù đêm qua gió mạnh lồng lộn không ngớt. Thế rồi, chiếc lá thường xuân vẫn còn đó mặc dù đêm qua gió bắc lại lồng lên và mưa vẫn nặng hạt quật vào cửa sổ. Giôn-xi thật không thể tin được vì điều gì mà chiếc lá lại kiên cường đến vậy. Lúc này cô mới hiểu ra rằng, đến chiếc lá còn cố gắng chống lại mưa bão để được ở lại trên cành cây thì tại sao cô lại chịu cúi đầu trước bệnh tật? Ta thấy trong thực tế, cuộc đời của tác giả cũng gặp nhiều nỗi gieo neo. Ông đã từng trải nghiệm qua rất nhiều nghề để kiếm sống, cảnh đời thật đã cho ông yêu sống phong phú. Khi viết truyện, ông đặt cái tâm nóng hồi của mình lên trang giấy. Từ bác Bơ-mcn đến Giôn-xi, Xiu, hầu hết đều có sự hoá thân của tác giả…

Tác giả muốn bày tỏ thái độ ca ngợi về nét đẹp trung trinh của Xiu và Giôn-xi. Với ông, ở họ có một tình hạn rất đẹp đẽ, trong sáng và rất đáng trân trọng. Cuộc sống nghèo khổ, sở thích tương đồng, tình cờ đã giúp họ xích lại gần nhau. Giọt nước mắt ấy là giọt nước mắt của tình thương. Trái tim cô không hề “chai sạn” mà luôn rung lên những nhịp đập đớn đau khi nghĩ đến cảnh: chỉ vài ngày nữa thôi cô bé sẽ mất đi một người bạn yêu quý. Lòng yêu thương ấy dường như là một điểm gợi hứng, là một điểm khơi nguồn để bác Bơ-men sáng tác lên một bức tranh kiệt tác? Có thể là như thế. Sự nguy kịch có liên quan đến sự sống còn của một con người dường như đã thôi thúc trái tim bác phải làn một điều gì đó để giúp họ.

Nhà văn đã tạo nên trong tác phẩm một hơi thở riêng độc đáo. Đây là một câu chuyện giàu kịch tính. Nhà văn đã khéo léo đặt nhân vật vào các tình huống, các hoàn cảnh mang tính điển hình để khắc hoạ rõ tính cách của nhân vật. Với Chiếc lá cuối cùng, O. Hen-ri đã gởi lại cho thế hệ sau bức thông điệp viết trên màu xanh của lá cây: hãy thương yêu con người, hãy vì sự sống của con người. Đó là lẽ tồn tại cao nhất của nghệ thuật vì con người.