Phân tích hình ảnh ông đồ trong bài thơ “Ông đồ” của Vũ Đình Liên

Bài thơ “Ông đồ” được tác giả Vũ Đình Liên sáng tác khi mà nền nho giáo ngày càng bị công chúng quên lãng, những tinh hoa xưa chỉ còn lại chút tro tàn. Ông đồ và chữ Nho cũng không còn tồn tại nhiều nữa. Nội dung của bài thơ thể hiện sự hoài cổ của tác giả Vũ Đình Liên với một truyền thống tốt đẹp mang nét văn hóa riêng của dân tộc Việt Nam nhưng bị mai một dần.

Trong hai khổ thơ đầu tiên tác giả Vũ Đình Liên đã nhắc lại thời kỳ hoàng kim của nho giáo khi mà chữ viết của các ông đồ luôn được trân trọng:

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực tàu giấy đỏ

Bên phố đông người qua

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài

Hoa tay thảo những nét

Như phượng múa rồng bay

Trong hai khổ thơ này đã nói lên thời gian và địa điểm mà ông đồ thường làm việc. Đó chính là khi năm hết Tết đến vào dịp mùa xuân khi hoa đào nở rộ, ông đồ thường viết chữ cho những người dân hy vọng vào một năm mới, an khang, thịnh vượng, bình an, sức khỏe.

Trong khổ thơ có hoa đào vô cùng thắm tươi, lại có màu đỏ của giấy và mực tàu làm cho mọi nét trong bức tranh tả hình ảnh ông đồ thời kỳ hoàng kim trở nên vô cùng tươi vui, sống động, tràn ngập sức sống. Thời gian được viết với hai từ ” mỗi năm” thể hiện sự lặp đi lặp lại như một việc làm vô cùng quen thuộc. Dẫu chỉ chiếm 1 góc nhỏ trên lề phố nhưng trong bức tranh thơ thì ông đồ lại chính là trung tâm, ông đã hòa hết mình vào cái không khí nhộn nhịp của ngày tết với những tài năng mình có.

Nhưng thời gian trôi đi và cuộc đời cũng thay đổi. Việc thưởng thức một vẻ đẹp nho nhã thanh tao, độc đáo cũng ít dần đi theo năm tháng khi Nho học đã suy tàn:

Nhưng mỗi năm mỗi vắng

Người thuê viết nay đâu?

Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu

Sự thưa thớt được tính theo năm, theo một chu trình nghiệt ngã: “mỗi năm” – “mỗi vắng”. Người thuê viết cũng giảm đi theo năm tháng. Nỗi buồn này không chỉ xuất hiện ở ông đồ mà ngấm sâu vào cả giấy bút là những nguyên liệu để ông sáng tạo: “Giấy đỏ buồn không thắm – Mực đọng trong nghiên sầu”. Đây không chỉ là nỗi buồn vì việc cho chữ không phát triển, có thể cảm nhận được bằng trực quan, mà còn là nỗi buồn tê tái, buồn tới mức giấy “đỏ” không còn “thắm”, không rực rỡ khoe sắc khoe màu cùng Tết đến xuân sang nữa. Nỗi buồn ấy chuyển thành nỗi “sầu” đọng lại trong nghiên mực: “Mực đọng trong nghiên sầu”.

Các từ buồn, sầu như thổi hồn vào sự vật cùng với phép nhân hóa đã khiến cho giấy đỏ, mực tàu vốn vo tri bỗng trở nên có hồn có suy nghĩ như con người. Nỗi buồn đó không chỉ thấm vào những đồ dùng mưu sinh hằng ngày mà cảm xúc đó của ông còn lan ra khung cảnh thiên nhiên, cảnh vật khiến không gian trở nên thật đìu hiu, xót xa:

Ông đồ vẫn ngồi đó

Qua đường không ai hay

Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài giời mưa bụi bay

Tuy nghề viết chữ không được người đời yêu mến và kính trọng nữa nhưng ông đồ vẫn kiên trì, cố gắng ngồi bên lề đường chờ mong sự cưu mang giúp đỡ của người đời. Nhưng đâu có 1 ánh mắt nào để ý đến ông bên lề phố, không một trái tim nào đồng cảm và chia sẻ với ông. Bằng biện pháp tả cảnh ngụ tình nhà thơ Vũ Đình Liên đã cho ta thấy 1 khung cảnh thiên nhiên thật xót xa, đìu hiu trước tâm trạng của ông đồ: Lá vàng rơi trên giấy/ Ngoài giời mưa bụi bay.

 

Hình ảnh ông đồ cũng giống như hình ảnh lá vàng rơi, đã gắng níu kéo cuộc đời thầm lặng của mình nhưng so với thời đại mới thì chỉ còn là chiếc lá úa tàn đang rơi rụng. Nỗi buồn ấy âm thầm, tê tái nó đã khiến cơn mưa xuân vốn sức sống bền bỉ cũng trở nên đìu hiu xót xa.

Năm nay đào lại nở

Không thấy ông đồ xưa

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

Tết lại đến, đào vẫn nở, phố phường vẫn náo nhiệt. Vậy mà, ông đồ chẳng thấy đâu. Giờ đây hình ảnh ông đồ chỉ còn là cái di tích tiều tụy đáng thương của 1 thời tàn, ông đã bị người đời quên lãng. Dòng đời cứ trôi dần và trôi đi cả cuộc sống thanh bình đẹp đẽ, giờ chỉ còn là 1 nỗi trống trải, bâng khuâng. Đặc biệt, hai câu thơ cuối tác giả đã trực tiếp bộc lộ cảm xúc dâng trào, kết đọng mang chiều sâu khái quát. Từ hình ảnh ông đồ nhà thơ liên tưởng đến hình ảnh những người muôn năm cũ và thi sĩ hỏi 1 cách xót xa: Hỏi mây hỏi trời, hỏi cuộc sống hỏi 1 thời đại, hỏi mà để cảm thông cho thân phận của những người muôn năm cũ đã bị thời thế khước từ. Câu hỏi tu từ đặt ra như 1 lờ tự vấn, tiềm ẩn sự ngậm ngùi, xót thương.

Với cách sử dụng thành công biện pháp tu từ, nhà thơ Vũ Đình Liên đã tái hiện lên hình ảnh ông đồ  với cái di tích tiều tụy đáng thương của 1 thời tàn khiến chúng ta lại càng cảm thương, xót xa cho số phận của ông.

Tình cảnh đáng thương của ông đồ chính là những trăn trở của nhà thơ về một thế hệ vang bóng một thời. Nét đẹp văn hóa cổ truyền của dân tộc đang dần bị mai một. Đó là sự thiệt thòi cho những thế hệ sau, dần bị mất đi những giá trị mang tính nhân văn sâu sắc.