Phân tích bài thơ “Lại bài viếng Vũ Thị “ của Lê Thánh Tông

Lê Thánh tông (1442 – 1497) là con thứ tư của Lê Thái tông, tên là Hiệu, lại có tên là Tư Thành, sinh vào năm 1442, năm Nguyễn Trãi bị giết oan. Vì sự lục đục trong nội bộ hoàng gia, nên Lê Tư Thành đã phải trải qua một thời kỳ thơ ấu gian truân. Năm 1460, sau khi triều thần trừ xong bè đảng của Nghi Dân, Lê Tư Thành được lập lên làm vua. Lê Thánh tông ở ngôi 38 năm, cải nguyên hai lần, mười năm đầu (1460 – 1469) đặt niên hiệu là Quang Thuận, hai mươi tám năm sau (1470 – 1497) đặt niên hiệu là Hồng Đức. Lê Thánh tông là ông vua có vai trò quan trọng trong việc củng cố và phát triển nhà nước phong kiến quan liêu.

Lê Thánh tông để lại nhiều thơ văn chữ Hán. Lê Thánh tông viết nhiều tác phẩm nôm. Thơ nôm của ông nhiều bài được chép trong Hồng Đức quốc âm thi tập. Về biền văn nôm thì tác phẩm Thập giới cô hồn quốc ngữ văn có lẽ cũng là của ông. “Lại bài viếng Vũ Thị” là bài thơ Nôm độc đáo trong “Hồng Đức quốc âm thi tập”. Độc đáo vì nó là bài thơ của một ông vua giỏi chữ hay thơ đã sáng lập ra hội Tao Đàn đã hướng tình thương xót đối với một người phụ nữ bình dân bạc mệnh.

“Nghi ngút đầu ghềnh toả khói hương

Miếu ai như miếu vợ chàng Trương

Bóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ,

Cung nước chi cho luỵ đến nàng.

Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt,

Giải oan chẳng lọ mấy đàn tràng.

Qua đây bàn bạc mà chơi vậy,

Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng.”

Mở đầu bài thơ là hình ảnh khói hương nghi ngút . Ở đây, tiếng thơ đúng là tiếng lòng, dung dị, giàu cảm xúc. Độc đáo vì nó là bài thơ của một ông vua giỏi chữ hay thơ đã sáng lập ra hội Tao Đàn, đã hướng tình thương xót đối với một người phụ nữ  bình dân bạc mệnh. Nhìn thấy khói hương và miếu thờ nơi đầu ghềnh mà chợt nhớ vợ chàng Trương, một người phụ nữ oan khổ. Thơ nôm thời Hồng Đức dành một mảng đáng kể chuyên miêu tả sinh hoạt dân dã với những vật hết sức thông thường, nhỏ mọn nhưng rất đỗi thân thương, gắn bó mật thiết với người Việt như hình với bóng: khoai lang, quả dưa, cây chuối, cây cau, cái nón, cái đó, cái quạt, ông đầu rau, cối xay, thằng bù nhìn, nhà dột, con chó đá, con gà, con muỗi, con cóc, trứng vịt…Giọng thơ nhẹ nhàng, thương cảm. Nhà vua đã ca ngợi tiết hạnh của người phụ nữ bạc mệnh mặc dù nàng chỉ là một nhân vật hư cấu.

Bài thơ đã kín đáo nêu lên cho đời bài học về đối nhân xử thế, cẩn trọng nhất là trong đạo vợ chồng. Nhà thơ có một cách nói nhẹ nhàng chê trách sự hồ đồ, nông cạn của chàng Trương là nguyên nhân dẫn đến mọi bi kịch, đau xót trong cuộc đời:

“Bóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ,

Cung nước chi cho luỵ đến nàng.”

Tâm hồn trong sáng, thủ chung của Vũ Nương được nhật nguyệt, được trời đất soi sáng, chứng quả cho. Bốn từ Hán Việt được sử dụng rất chọn lọc ở phần luận đã làm cho giọng thơ thêm phần trang nghiêm, trang trọng: chứng quả, nhật nguyệt, giải oan, đàn tràng. Chính chàng đã gián tiếp mưu sát Vũ Nương. Có lẽ tới đây, vua Lê Thánh Tông cũng rất tức giận vì ngài ước gì lúc đó ngài là vua, thì ngài sẽ ban ra luật pháp chặt chẽ hơn để chống bạo hành trong gia đình, thì có lẽ Trương Sinh đã không dám hó hé, và Vũ Nương đã được cứu. Hai câu tiếp, tác giả đã đưa ra được một hình ảnh hết sức lãng mạn và huyền ảo:

“…Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt,

Giải oan chẳng lọ mấy đàn tràng…”

Tác giả đã đưa lên hình ảnh của hai vật thể vĩnh cửu trên thế gian này, đó là mặt trăng và mặt trời. Hai vật này tuy rất gần nhưng lại rất xa. Ở đây cũng vậy, tác giả muốn nói là Vũ Nương và Trương Sinh giờ đã hai nơi cách biệt, chẳng thể gặp nhau, cho dù chàng đã để “lo mấy đàn tràng” để “giải oan” nhưng vẫn chẳng được đâu. Đến đây, dòng suy nghĩ của tác giả bị ngắt ngang bởi một dòng suy nghĩ mới. Ông tay vừa chơi nhưng miệng vẫn không ngớt lời oán trách Trương Sinh sao quá phũ phàng: “Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng”. Các chữ “khá trách”, “phũ phàng” rất nhẹ nhàng mà nhân hậu, sâu sắc. Chàng Trương thật phũ phàng đáng trách đã gây ra cái chết thàm, chết oan cho người vợ hiền thảo của mình.

Cuộc đời sáng tác của Lê Thánh tông khá dài; có thể nói từ khi trưởng thành cho đến khi qua đời, ông luôn luôn giữ địa vị quan trọng trên văn đàn. Ông là người cầm đàu bộ máy nhà nước nên sáng tác của ông thường thiên về những vấn đề thực tiễn có liên quan đến yêu cầu củng cố chế độ phong kiến. Trong thơ Lê Thánh tông ít thấy những tứ thơ bay bổng, những cảm hứng phiêu dật, những suy tư thâm trầm.