Phân tích bài thơ “Đưa ông phủ” của nhà thơ Tú Xương

Xuân Diệu xếp Tú Xương thứ 5 sau ba thi hào dân tộc (Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương) và Đoàn Thị Điểm. Ðặng Thai Mai khen Tú Xương là “Thầy Tú biết cười”. Nguyễn Tuân biểu dương Tú Xương là một người thơ, một nhà thơ vốn nhiều công đức trong cuộc trường kỳ xây dựng tiếng nói văn học của dân tộc Việt Nam. Nhưng có lẽ, suy tôn ông là “bậc thần thơ thánh chữ” như Nguyễn Công Hoan thì mới xứng đáng với thi tài của một tâm hồn đầy nhân bản, một tấm lòng nghệ sĩ đôn hậu thủy chung nơi ông.

Nối tiếng thông minh, con đường hoạn lộ của nhà thơ bắt đầu từ năm 17 tuổi, nhưng thi mãi tám lần cũng chỉ đỗ Tú tài. Suốt đời ngoài việc đi thi, làm thơ phú và nay đây mai đó, nhà thơ hầu như không làm gì, kể cả dạy học, một nghề thường thấy của các nho sĩ ngày xưa. Thơ Tú Xương có sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố hiện thực, trào phúng và trữ tình, trong đó trữ tình là gốc; ông chủ yếu làm thơ chữ Nôm viết bằng các thể loại cổ điển: thơ luật Đường: thất ngôn bát cú, tứ tuyệt, phú, văn tế, câu đối, hát nói, lục bát. Ở thể loại nào Tú Xương cũng tỏ ra là một nghệ sĩ bậc thầy.

Trần Tế Xương mất đột ngột ngày Rằm tháng Chạp năm Bính Ngọ (29 – 1 – 1907), trong một đêm rét mướt tại quê ngoại, làng Đê Tứ, huyện Mỹ Lộc. Năm đó, nhà thơ mới ba mươi bảy tuổi.Những kẻ ham muốn, ham hố vô độ về tiền bạc ấy đã được đọc bài thơ “Đưa ông phủ” của Tú Xương? Xin chép bài thơ ra đây để “các ông phủ thời hiện dại” đọc cho vui, đọc cho biết sự đời:

“Tri phủ Xuân Trường được mấy niên,

Nhờ trời hạt ấy cũng bình yên.

Chữ tra, chữ cứu không phê đến,

Ông chỉ quen phê một chữ tiền!”

Ý kiến trên đây đã giúp mỗi chúng ta tỉnh táo nhận thức về giá trị đồng tiền; biết sống chân chính làm ra tiền và sử dụng đồng tiền do công sức mồ hôi của mình làm ra một cách hợp lí. Và cũng cần biết thêm; “Tiền bạc là người đầy tớ trung thành và là người chủ xấu”. Đồng tiền lại có mặt trái; đó là thứ tiền bạc trong tay của những kẻ lưu manh, bất lương. Buôn thuốc phiện, hê-rô-in để đầu độc tuổi trẻ, buôn quan bán chức, tham nhũng, hối lộ, bác sĩ I lang băm làm tiền con bệnh, … Thử hỏi tiền bạc, tài sản của lũ ấy có đáng “vênh vamỉ” không? Đó là thứ tiền bạc tanh bẩn, là thứ tài sản bất minh, bất lương, phi nghĩa. Cho nên mới có câu ca lưu truyền: “Của phi nghĩa có ỳ Ci li đâu/ Ớ cho nhân đức, giàu sau mới bền”.

Tại sao, sự ham muốn vô độ về tiền bạc sẽ dần con người đến chỗ sa đọa vê tâm hồn? Sống ở đời, mọi sự ham muốn vô độ đều làm hủy hoại nhân cách, phẩm giá con người. Nghiện cờ bạc, rượu chè, nha phiến, hám danh hám lợi, mê đắm gái đẹp,… đều dẫn đến đồi bại, ô nhục. Ham muốn vô độ về tiền bạc tất sẽ sa đọa tâm hồn. “Hoàng kim hắc nhân tâm”; “Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê”; “Nén bạc đâm toạc tờ giấy”; “Trong tay sẵn có đồng tiền I Dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì!”, v.v…Những câu cổ ngữ, câu tục ngữ, câu thơ ấy chắc nhiều người trong chúng ta vẫn nhớ?

Hai câu thơ 3, 4 gợi lên cái thần bức biếm họa ông phủ. Tác giả không vẽ ông phủ có bộ mặt phì nộn như quan phụ mẫu trong “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan; cũng không có cung cách như tri phủ Tú Ân trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố. Tác giả cũng không nói đến áo quần sang trọng, bài ngà, cái giọng nhà quan có gang có thép của quan tri phủ. Mà Tú Xương chỉ nói đến cái tay, cái bút, cái hành động rất “quen”, rất thành thạo của quan tri phủ Xuân Trường mà thôi:

“Chữ y chữ chiểu không phê đến,

Ông chỉ quen phê một chữ tiền.”

Y nghĩa là bằng lòng, đồng ý; chiểu nghĩa là căn cứ vào đó mà thi hành. Y và chiểu là ngôn từ trong văn bản hành chính mà bọn quan lại ngày trước thường dùng. Câu thơ thứ ba này có dị bản: “Chữ tra, chữ cứu không phê đến”. Tra, cứu nghĩa là điều tra, xét hỏi. Bức tranh hiện thực trong thơ Tú Xương là một bức tranh xám xịt, dường như chỉ có rác rưởi, đau buồn, vì hiện thực của xã hội thực dân – nửa phong kiến là như vậy. Với giọng văn châm biếm sâu cay, thơ văn của ông đã đả kích bọn thực dân phong kiến, bọn quan lại làm tay sai cho giặc, bọn bán rẻ lương tâm chạy theo tiền bạc, bọn rởm đời lố lăng trong buổi giao thời.