Phân tích bài thơ “Chùa Non Nước” của Lê Thánh Tông

Hồng Đức quốc âm thi tập là cột mốc thứ hai sau Quốc âm thi tập ở chặng đầu dòng thơ tiếng Việt thời trung đại. Xét riêng ở bình diện ngôn ngữ, bên cạnh bộ phận ngôn ngữ ngoại nhập (Từ Hán Việt, điển tích, thi liệu Hán học…), Hồng Đức quốc âm thi tập còn có bộ phận ngôn ngữ dân tộc: Từ Việt, ngôn ngữ văn học dân gian và thành phần ngôn ngữ đời sống. Tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập do những nhân sĩ của hội Tao đàn sáng tác dưới sự chủ xướng của vua Lê Thánh Tông. Tuy sáng tác còn nặng lối cung đình tuy nhiên tập thơ đã đem đến cho văn học những vần thơ hết sức thi vị. Có thể thấy ở tập thơ này, về mặt nội dung rất phong phú, có sự kế thừa và tiếp thu những tinh hoa nghệ thuật của thơ Nguyễn Trãi từ thế kỉ trước. Trong đó có bài thơ “Chùa Non Nước” tương truyền là sáng tác của Tao Đàn đô nguyên súy Lê Thánh Tông. Bao trùm bài thơ là một cái nhìn man mác với bao suy ngẫm về thiên nhiên và cuộc đời.

Bài thơ chia làm 2 phần. Bốn câu đầu miêu tả cảnh sắc chùa Non Nước. Bốn câu cuối nói lên những suy ngẫm của tác giả về Phật, về con người trong cuộc đời.

“Nơi gọi Bồng, nơi gọi Nhược,

Hai bên góp làm Non Nước,

Đá chồng hòn thấp, hòn cao,

Sóng trục lớp sau, lớp trước.

Phật hư vô, cảnh thiếu thừa,

Khách danh lợi buồm xuôi ngược.

Vẳng nghe trên gác boong boong,

Lẩn thẩn dưới chùa lần bước.”

 

Bài thơ được viết theo thể thơ lục ngôn bát cú (sáu chữ, tám câu). Núi Non Nước nằm bên bờ sông Đáy thuộc thị xã Ninh Bình. Xa xưa gọi là Băng Sơn nằm giữa cửa biển. Nằm ở phía đông bắc của thành phố Ninh Bình, núi và chùa Non Nước tọa lạc ngay bên dòng sông Vân hiền hòa thơ mộng, non nước hữu tình từng được ví như “non tiên có cửa biển” trong bài thơ “Dục Thúy sơn” nổi tiếng của Nguyễn Trãi. Chùa Non Nước – ngôi chùa cổ kính hàng trăm tuổi tọa lạc dưới chân núi Non Nước luôn mang trong mình vẻ linh thiêng, trầm mặc.Dưới thời Hồng Đức nho giáo phát triển mạnh và được đưa lên vị trí quốc giáo, giữ địa vị độc tôn. Nho giáo ở địa vị quốc giáo thì Nho học sẽ trở thành quốc học với đội ngũ nho sĩ, quan lại là chỗ dựa của triều đình phong kiến. Có thể nói triều đình Lê Thánh Tông đã tạo môi trường thuận lợi để các nho sĩ thực hiện lí tưởng tu thân, tề gia, trị, quốc, bình thiên hạ.

Trong thế kỉ XIII, Trương Hán Siêu đổi tên núi thành Dục Thúy Sơn. Ông có bài thơ “Dục Thúy Sơn khắc thạch” và bài văn “Dục Thúy Sơn linh tế tháp kí” đều nói về núi này. Từ xa xưa đến nay, trên núi Non Nước vẫn có chùa, người đời gọi là chùa Non Nước, núi, chùa ấy là một trong những cảnh đẹp nổi tiếng trên miền Bắc nước ta. Tình yêu thiên nhiên vạn vật là tâm hồn rung động của con người trước vẻ đẹp kỳ thú của cảnh vật xung quanh. Vẻ đẹp ấy có thể toát ra từ những vật nhỏ bé như thân cây, ngọn cỏ, tảng đá, bóng chim…; cũng có thể là hình ảnh lớn hơn như núi non, sông bể, hang động, chùa chiền… Những cái được tạo thành tự nhiên, do quy luật của tự nhiên mà người xưa gọi là dưới bàn tay thợ hoá (hoá công), những cái được tạo thành theo quy luật khách quan dưới bàn tay con người, tất cả chỉ được coi là cái Đẹp khi được phản ánh bởi chủ thể thẩm mỹ là con người. Hai câu thơ đầu ca ngợi vẻ đẹp độc đáo, vẻ đẹp thần tiên của núi Non Nước. Núi có sông Đáy uốn quanh: cảnh sơn thủy hữu tình, nên thơ và độc đáo:

““Nơi gọi Bồng, nơi gọi Nhược,

Hai bên góp làm Non Nước,”

Từ “góp” ở đây rất bình dị, rất nôm nói lên bàn tay sáng tạo kì diệu của đất trời. Cảnh và vật có thể không khó nhưng thực sự cảm được vẻ đẹp ấy, và hơn nữa, thổi vào cho nó một “linh hồn” sống động thì không phải ai cũng làm được. Với hình ảnh mở đầu bài thơ như ở nơi bồng lai tiên cảnh, đó cũng là cảm nhận của văn sỹ thế hệ trước Nguyễn Trãi khi trong thơ ông có câu “Cảnh tiên rơi cõi tục” khi nói về cảnh vật nơi đây.

Hai câu 3, 4 đối nhau. Núi đá chông cao lên, nơi thì “‘hòn thấp” nơi thì “hòn cao” vừa lạ vừa đẹp mắt. Dưới sông, sóng đuổi nhau “lớp sau, lớp trước”. Ở đây hiện lên trước mắt người đọc cảnh sắc núi Non Nước, chùa Non Nước là cảnh sơn thủy hữu tình, cảnh tiên kì diệu. Bốn câu cuối nói lên những suy ngẫm của nhà thơ. Trước hết là suy ngẫm về Phật, về người đời:

“…Phật hư vô, cảnh thiếu thừa,

Khách danh lợi buồm xuôi ngược.

Vẳng nghe trên gác boong boong,

Lẩn thẩn dưới chùa lần bước.”

Từng câu thơ muôn hình muôn vẻ ở những khía cạnh tình cảm bình thường, giản dị trong cuộc sống, trong sinh hoạt như tình cảm gia đình, tình thương yêu đồng loại, tình yêu thiên nhiên vạn vật. Quan niệm “Đạo người” của Lê Thánh Tông có thực sự mang bản sắc dân tộc hay không phần lớn ở sự chuyển tải nội dung này. Những phẩm chất thanh cao, trong sáng, không ham danh lợi, không bị mê hoặc bởi giàu sang phú quý trong tư tưởng Đạo giáo, những phẩm chất yêu thiện ghét ác, từ bi hỉ xả cứu vớt chúng sinh trong tư tưởng Phật giáo cùng với tình người trong tư tưởng dân gian là những bộ phận hợp thành “Đạo người” của Lê Thánh Tông. Tâm truyền là sự truyền đạt tri thức, sự hiểu biết hoặc các thông tin nói chung từ người này sang người khác mà không cần thông qua con đường ngôn ngữ. Ông phê phán một giai thoại nhà Phật chép chuyện Phật tổ nâng hoa sen và chỉ có Ca Diếp đứng bên là hiểu ý, mỉm cười.

Bài thơ “Chùa Non Nước” là một thành công đặc sắc và độc đáo về thơ lục ngôn mà Lê Thánh Tông và Hội Tao Đàn để lại cho nền thi ca dân tộc. Tình yêu quê hương đất nước là một thứ tình cảm thiêng liêng thường trực trong mỗi con người. Nó thể hiện tính dân tộc sâu đậm bên cạnh tính nhân loại cao cả. Nó như một mạch ngầm vô tận, âm thầm cuộn chảy, và chỉ chờ có dịp là trỗi dậy mạnh mẽ, tạo nên sức mạnh tổng lực phi thường.