Giới thiệu Y Phương và bài thơ “Nói với con”

Nhà thơ Y Phương tên khai sinh là Hứa Vĩnh Sước, người dân tộc Tày sinh năm 1948, quê tại  huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Y Phương nhập ngũ năm 1968, năm 1981 chuyển công tác về sở văn hóa – Thông tin Cao Bằng. Từ năm 1983, ông là chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng. Năm 2007, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Từ năm 1993, ông là Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Cao Bằng, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa VI. Các tác phẩm chính: Người núi Hoa (1982), Tiếng hát tháng giêng (1986), Lửa hồng một góc (1987), Lời chúc (1991), Đàn then (1996), Thơ Y Phương (2002)… Năm 2007, Y Phương được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Ông một con người đến từ vùng đất Cao Bằng nhưng lại chọn cho mình một cái tên giống như một con người đến từ vùng đất Tây Nguyên. Bởi ông đã có cơ hội đến với Gia Lai. Nhưng ông biết ông chỉ là người đi qua đường thôi. Mặc dù vậy, vùng đất này đã để lại trong ông biết bao xúc cảm tươi mới, trước thiên nhiên hùng vĩ và những con người hiền lương như nắng gió, như hoa trái của mảnh đất bazan phồn sinh này. Người dân Gia Lai có lẽ không khác tâm tính đồng bào Cao Bằng là mấy.

Thơ ông thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ và trong sáng, cách tư duy giàu hình ảnh của con người miền núi. Y Phương là một cây bút luôn băn khoăn, trăn trở về ý nghĩa và ý thức giữ gìn những giá trị cộng đồng. Dù là thơ hay văn xuôi, tác phẩm của ông bao giờ cũng đau đáu một tấm lòng hướng về quê hương xứ sở, về mảnh đất mình sinh ra và chôn nhau cắt rốn, về dân tộc mình và đất nước mình. Chính vì thế, người ta thấy rất rõ một nỗi âu lo không giấu nổi ở Y Phương khi ông đang buộc phải chứng kiến tốc độ đô thị hóa quá nhanh, mà đi kèm với nó là sự mất mát bao phong tục cổ truyền, bao giá trị truyền thống cao đẹp.

Những năm cuối 70 đầu 80 của thế kỉ XX, đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân cả nước nói chung và nhân dân các dân tộc thiểu số ở miền núi nói riêng, vô cùng khó khăn và thiếu thốn. Bởi vì đất nước ta vừa bước ra khỏi cuộc kháng chiến chống Mĩ lâu dài và cực kì gian khổ. Cuối năm 1975, nhà thơ từ mặt trận trở về, sau nhiều năm đánh giặc xa nhà nay trở về lấy vợ sinh con trong bối cảnh túng thiếu bần hàn chung của toàn xã hội. Nhìn các con cầm bát cơm ăn không thịt cá mà lòng ông xót đau không tả. Bởi ông biết gia đình ông cũng như nhiều gia đình cán bộ khác chỉ sống bằng đồng lương quá ít ỏi. Ông nhìn thấy hàng hoá khan hiếm, giá cả leo thang từng ngày đến chóng mặt. Ở nơi ông sống bên cạnh cái tốt của những người làm ăn lương thiện, không ít những con người bị tha hoá biến chất. Họ buôn gian bán lận, lợi dụng kẽ hở của nhà nước để móc nối làm ăn phi pháp. Ở miền Nam, một bộ phận công chức nhỏ dưới thời nguỵ quyền Sài Gòn không chịu được đã tìm mọi cách để vượt biên trốn ra nước ngoài. Từ hiện thực khó khăn ngày ấy, Y Phương đã làm bài thơ “ Nói với con”  để tâm sự với chính mình, đồng thời để nhắc nhở con cái sau này.

Bài thơ Nói với con đã ra đời trong hoàn cảnh như thế. Bài thơ là lời ngợi ca tình quê hương, gia đình không phải là một đề tài mới. Xét về mặt đề tài, bài thơ Nói với con của Y Phương cũng vậy. Tuy nhiên, bài thơ có một sức sống riêng. Sức sống ấy có được là nhờ cách diễn đạt tình cảm độc đáo mang đậm bản sắc của người dân tộc miền núi. Nói với con là lời tâm sự, thủ thỉ, trò chuyện của người cha dành cho con từ lúc con mới lọt long. Mạch cảm xúc chủ đạo của bài thơ chính là tình yêu thương, chia sẻ, gắn bó và giáo dục cho con những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những người xung quanh con. Với thể thơ tự do phóng khoáng, cảm xúc chân thành, mộc mạc đã khiến cho tình cảm đó càng trở nên ấm áp và thân thiết. Y Phương đã gieo vào long người đọc chất liệu đời thường rất mực thiêng liêng.

Bài thơ cho chúng ta thấy mỗi người sinh ra và lớn lên đều phải gặp rất nhiều khó khăn và thử thách, nhưng quan trọng chúng ta cần phải vượt qua nó như thế nào để chiến thắng chính bản thân mình. Du là “đá gập ghềnh, nghèo đói, lên thác xuống ghềnh” thì cũng không nên từ bỏ, không nên gục ngã. Vượt qua những điều đó chính là vượt qua được bản thân mình và trở thành một người có ích cho xã hội. Những câu thơ khẳng định chân lý sống không gục ngã mà người cha muốn nhắn nhủ đến con trai. Đó như là một lời khuyên, lời giáo huấn chân thành để con có thể tự mình bước tiếp những chặng đường tiếp theo.

Có thể nói bằng những lời thơ của mình nhà thơ Y Phương đã kể những câu chuyện về người thân quen ruột thịt, về cha mẹ mình, về lối sống gia đình mình. Nhưng quan trọng hơn cả, Y Phương không bao giờ quên những phận người bé nhỏ vô danh, những người đã sinh ra, lớn lên và ra đi một cách lặng thầm nhưng tấm lòng của họ, lối nghĩ và cách sống của họ là những ghi khắc vô hình các giá trị văn hóa vào dòng chảy không ngừng nghỉ của thời gian.