Giới thiệu về Tú Xương và bài thơ Thương Vợ

Tú Xương tên thật là Trần Tế Xương lúc nhỏ tên là Trần Duy Uyên, tự Mặc Trai, hiệu Mộng Tích, sinh ngày 10 tháng 8 Canh Ngọ (5 – 9 -1870), tại làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, nay là phố Hàng Nâu, thánh phố Nam Định. Đến năm 1903, nhà thơ đôi tên một lần nữa, thành Trần Cao Xương, nhân khoa thi Quý Mão. Cha là nhà nho Trần Duy Nhuận, thi nhiều lần không đỗ, làm Tự thừa ở dinh đốc học Nam Định. Trần Tế Xương, là con trưởng trong gia đình có chín anh em. Nhà thơ lấy vợ, bà Phạm Thị Mần, năm mới mười sáu tuổi. Sau này, bà trở thành nhân vật nổi tiếng của phụ nữ nước Nam xinh xắn, giàu lòng yêu chồng thương con, hết mực tảo tần.

37 năm của cuộc đời Tú Xương (1870 – 1907) nằm trọn trong giai đoạn lịch sử vô cùng bi thảm: Triều đình nhà Nguyễn vốn lạc hậu và bảo thủ, đang trên đà suy sụp, rốt cuộc đã bán đứng đất nước ta cho thực dân Pháp.

Việc chủ nghĩa tư bản phương Tây xâm nhập vào Việt Nam đã làm thay đổi sâu sắc đất nước ta về tất cả mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá, đạo đức và xã hội. Thế nhưng Việt Nam đâu có trở thành một nước tư bản chủ nghĩa thực thụ! Trái lại nó bị giam hãm trong cơ chế của một nước phong kiến nửa thuộc địa. Bức tranh xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX là một bức tranh xám xịt, nham nhở. Toàn bộ vùng nông thôn rộng lớn vẫn chìm trong đêm tối của cảnh nghèo khốn, lạc hậu. Còn ở các vùng kẻ chợ như Hà Nội và Nam Định (quê Tú Xương) thì phơi bày một cảnh đời đồi bại và lố lăng.

Tú Xương sáng tác khá nhiều, chủ yếu là thơ Nôm (hiện còn trên 100 bài gồm thơ, văn tế, phú, câu đối). Thơ Tú Xương mang tính hiện thực cao, song cũng hàm chứa những tình cảm vô cùng sâu sắc. Những trăn trở, suy tư, những bức bôi dằn vặt… đều được gửi gắm vào tiếng thơ của ông với nhiều giọng điệu khi trữ tình sâu lắng (áo bông che bạn, thương vợ, đêm hè), khi xót xa buồn thương (Buồn thi hỏng, Sông Lấp, Than nghèo), khi trực diện vỗ mặt sâu cay (Bác Cử Nhu Năm mới chúc nhau). Thi pháp thơ Tú Xương phong phú, đặc sắc, độc đáo. Dựa vào những sáng tác còn lại của Tú Xương, có thế khẳng định sáng tác của Tú Xương gồm hai mảng trào phúng và trữ tình.Những bài thơ như “Thương vợ”, “Mồng hai Tết, viếng cô Kí”, “Ông cò”, “Đưa ông phủ”, “Sông Lấp”, “Đất Vị Hoàng”, “Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu”, … là những bài thơ nổi tiếng của Tú Xương. Ông xứng đáng là nhà thơ trào phúng bậc thầy, chiếm một địa vị vẻ vang trong nền thi ca dân tộc.

Cuộc đời ông gắn liền với lều chõng, tính ra có tất cả 8 lần. Sau 3 lần hỏng, mãi đến lần thứ tư khoa Giáp Ngọ (1894) ông mới đỗ Tú tài, nhưng cũng chỉ là Tú tài thiêm thủ (lấy thêm). Mãi sau đó dù kiên trì đeo đuổi, ông vẫn không đỗ được Cử nhân. Khoa Quý Mão (1903), ông đổi tên thành Trần Cao Xương với hy vọng bớt vận đen, nhưng rồi hỏng vẫn hoàn hỏng, đến phải cáu gắt lên trong bài “Hỏng thi khoa Quý Mão”: “Tế” đổi làm “Cao” mà chó thế!/ “Kiện” trông ra “Tiệp” hỡi trời ôi! (Kiện và tiệp là hai chữ Hán viết hơi giống nhau, chỉ cần viết nhầm chữ này sang chữ kia là dù bài thi có hay mấy cũng cứ bị đánh hỏng).

Cuộc đời ngắn ngủi của nhà thơ Trần Tế Xương rơi vào đúng giai đoạn có nhiều biến động, đau thương nhất của lịch sử dân tộc và xã hội Việt Nam: mất Nam Kỳ, Bắc Kỳ rồi thực dân đặt ách thống trị trên toàn cõi Việt Nam; xã hội phong kiến mục ruỗng nhưng chưa chết hẳn lại manh nha một xã hội mới nhố nhăng hơn… Những nỗi đau, buồn, phẫn uất riêng của Tú Xương đã hòa chung với nỗi đau của dân tộc, nhân dân thời bấy giờ. Cả đời Tú Xương hầu như làm thơ trào phúng về những cái mới quái gở đó, ông dám vạch trần, đả kích thẳng tay và cần thiết vẫn gọi tên, điểm mặt. Bên cạnh thơ trào phúng, Tú Xương còn để lại những bài thơ trữ tình thắm thiết, đó là biểu hiện cho bản chất, cốt cách của nhà thơ, một người giàu lòng yêu thương, luôn thao thức với đời và khi phải tự trách mình cũng hết sức chân thật.Và thế là, cái xã hội ấy đã đi vào thơ Tú Xương hầu như nguyên vẹn cả hình hài, từ sự tha hóa của nhiều bộ phận xã hội trước ma lực của đồng tiền đến “sĩ khí rụt rè gà phải cáo” của tầng lớp nho sĩ cuối mùa, vừa muốn giữ vẻ oai nghiêm, chững chạc vốn có, vừa lom khom chen lấn để có tí chút quyền lực và của cải. Cả đời, Tú Xương hầu như làm thơ trào phúng về bao cái mới quái gở đó. Nhà thơ vạch trần, đả kích thẳng tay và khi cần gọi tên, điểm mặt.

Tú Xương, cũng như Vũ Trọng Phụng sau này, có biệt tài đưa những mảng hiện thực gần như trần trụi của cuộc sống vào trong thơ văn, vậy mà lại tạo ra được những tác phẩm hay đến mức thần tình. Tú Xương mất đã gần 90 năm, vậy mà văn thơ của ông đối với chúng ta hôm nay vẫn gần gũi, vẫn sống động vô cùng.