Giới thiệu về Nguyễn Minh Châu và truyện “Bến quê”

Nguyễn Minh Châu (1930 -1989) là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học VN thời kỳ chống Mỹ với những thành công về tiểu thuyết và truyện ngắn. Trong đó, tác phẩm truyện ngắn “Bến quê” in trong tập truyện ngắn cùng tên của NguyễnMinh Châu, xuất bản năm 1985. Hãy cùng điểm qua một số bài giới thiệu về Nguyễn Minh Châu vầ truyện “bến quê” trong tập văn mẫu lớp 9 dưới đây.

Bài văn mẫu lớp 9 số 1

Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989) quê ở Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Ông là nhà văn Quân đội, từng tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. “Dấu chân người lính” (tiểu thuyết), “Những vùng trời khác nhau” (tập truyện ngắn) được xem là những bài ca chiến trận thấm đượm chất sử thi và màu sắc lãng mạn.

Sau năm 1975, các tác phẩm: “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”, “Bến quê” “Cỏ lau” là những thành công về tìm tòi đổi mới trong tư tưởng và nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu. Thân phận, số phận con người, những mơ ước bình dị, cuộc sống quanh ta, những vui buồn, ánh sáng và bóng đen, v.v… được ông nói đến với bao khơi gợi, rất nhân bản, đầy tình người. Trang văn Nguyễn Minh Châu giàu ý vị triết lí và đa nghĩa.

Truyện ngắn “Bến quê'” in trong tập truyện cùng tên của Nguyễn Minh Châu, xuất bản năm 1985.

Qua nhân vật Nhĩ, một người từng trải đang ốm nặng, sắp lìa đời, tác giả gửi gắm bao suy ngẫm cảm động về con người về cuộc đời, thức tỉnh lương tri đồng loại không nên sống dửng dưng, hờ hững mà phải biết trân trọng những vẻ đẹp và giá trị thân thuộc bình dị của cuộc sống, của gia đình và quê hương.

Bài văn mẫu lớp 9 số 2

Nguyễn Minh Châu (20 tháng 10 năm 1930 – 23 tháng 1 năm 1989) là một nhà văn có ảnh hưởng quan trọng đối với văn học Việt Nam trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam và thời kỳ đầu của đổi mới.

Năm 1960, Nguyễn Minh Châu viết truyện ngắn đầu tay Sau một buổi tập. Trong sự nghiệp sáng tác kéo dài ba thập kỷ (1960-1989), khép lại với chuyện vừa Phiên chợ Giát viết năm 1989, ông để lại 13 tập văn xuôi và một tiểu luận phê bình. Các tác phẩm chính của ông là Cửa sông (tiểu thuyết, 1966), Những vùng trời khác nhau (truyện ngắn, 1970), Dấu chân người lính (tiểu thuyết, 1972), Miền cháy (tiểu thuyết, 1977), Lửa từ những ngôi nhà (tiểu thuyết, 1977) Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (truyện ngắn, 1983), Bến quê (truyện ngắn, 1985), Mảnh đất tình yêu (tiểu thuyết, 1987), Cỏ lau (truyện vừa, 1989)…

Trong đó, truyện ngắn “Bến quê” kể về nhân vật Nhĩ đã từng đi khắp nới trên trái đất. Nhưng về cuối đời lại bị cột chặt vào giường bệnh bởi một căn bệnh hiểm nghèo đến nỗi không thể dịch chuyển lấy vài mươi phân trên cửa sổ. Nhìn sang bãi bồi bên kia sông Hồng.

Chính vào thời điểm ấy Nhĩ đã phát hiện ra vùng đất bên kia sông nơi bến quê quen thuộc một vẻ đẹp bình dị mà hết sức quến rũ. Cũng chính lúc nằm liệt giường Nhĩ mới cảm nhận được hết nỗi vất vả, tình yêu thương, đức hy sinh thầm lặng của vợ mình. Nhĩ khát khao được một lần đặt chân lên bãi bờ bên kia sông. Các miền đất thật gần gũi nhưng lại xa vời vô cùng.

Không thể thực hiện được cái điều mình khao khát. Nhĩ đã nhờ đứa con trai thay mình sang đặt chân lên bến bờ bên kia sông. Nhưng đứa con không hiểu ước muốn của cha nó miễn cưỡng và bị hút vào trò chơi hấp dẫn trên dường đi để rồi bị lỡ chuyến đò ngang duy nhất trong ngày.

Từ đó Nhĩ đã chiêm nghiệm được cái quy luật đầy nghịch lý của cuộc sống: “Con người ta khó tránh khỏi cái vòng vèo, chùng chình, phải dứt ra khỏi nó để hướng tới những giá trị đích thực của cuộc sống.”

Bài văn mẫu lớp 9 số 3

Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989), quê huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Ông nhập ngũ năm 1950, sau trở thành nhà văn, Ông là một trong những cây bút văn xuôi tiêu biểu của văn học thời kỳ chống Mĩ. Sau năm 1975, đất nước bước sang một thời kì mới, văn học cũng phải chuyển mình để đáp ứng nhu cầu đổi mới. Nguyễn Minh Châu đã có nhiều tìm tòi đổi mới về tư tương và nghệ thuật. Ông được đánh giá “thuộc số những nhà văn mở đường tinh anh và tài hoa nhất của văn học ta hiện nay” (Nguyên Ngọc).

Tác phẩm chính: Những vùng trời khác nhau (tập truyện, 1970), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (tập truyện, 1983), Chiếc thuyền ngoài xa (tập truyện, 1987),…

Tiểu thuyết : Cửa sông (1967), Dấu chân người lính (1972), Miền cháy (1977), Những người đi từ trong rừng ra (1982).

Tiểu luận phê bình: Trang giấy trước đèn (1994),…

Ông đã nhận được nhiều giải thưởng trong đó có Giải thưởng Hồ Chí Minh về  văn học và nghệ thuật năm 2000.

Truyện ngắn Bến quê viết trước bốn năm nhà văn qua đời, in trong tập -truyện cùng tên (1985). Qua cảnh ngộ và tâm trạng nhân vật Nhĩ, truyện Bến quê gửi gắm những suy ngẫm, trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về cuộc đời, con người, thức tỉnh ở mọi người sự trân trọng những vẻ đẹp và giá trị bình dị, gần gũi của gia đình, quê hương.

Suốt đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất, nhưng anh chưa bao giờ đi đến cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa nhà mình.

Thế mà giờ đây, Nhĩ ốm nằm liệt giường. Phiến lưng đã có nhiều mảng da thịt vừa chai cứng vừa lở loét. Đầu thu hoa bằng lăng đã thưa thớt và nhạt màu, bờ bãi sông Hồng phô ra một màu vàng thau xen với màu xanh non trước khuôn cửa sổ của gian gác nhà Nhĩ. Anh đang nằm trên tấm phản cho Liên, vợ anh bón thức ăn, và cho Tuấn, đứa con trai thứ hai cầm chiếc khăn bông tẩm nước ấm khẽ lau miệng…. Liên mặc áo vá, anh ngắm nhìn rồi khẽ thốt lên: “‘Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm…mà em vẫn nín nhịn. Câu chuyện tâm tình mơ ước, Liên rót thuốc vào bát chiết yêu, dặn dò con vài điều, rồi rón rén buớc xuống cầu thang. Thằng Tuấn gần một năm nay đi học tận trong một thành phố phía Nam mới về thăm nhà tối hôm qua đang ngồi vừa nhặt rau vừa đọc sách vội chạy lên khi nghe Nhĩ gọi. Anh ngắm đứa con, thấy nó càng lớn càng có nhiều nét giống anh. Người cha sắp từ giã cõi đời đang giấu một điều tâm sự bí mật gì đó trong cái vẻ lúng túng, chợt hỏi con: “Đã bao giờ Tuấn… bên kia chưa”. Theo lời yêu cầu khẩn khoản của Nhĩ, đứa con trai mặc quần áo, đội chiếc mũ nan rộng vành, giắt vào người mấy đồng bạc ra đi sang bên sông.

Nhĩ mệt lử đau nhức…, anh cất tiếng gọi yếu ớt, “Huệ ơi! Một cô bé rất xinh đẹp chạy sang. Cô bé lễ phép hỏi Nhĩ, rồi cất tiếng gọi. Cả một lũ trẻ ở tầng dưới lần lượt chạy lên. Chúng xúm vào và rất nương nhẹ giúp Nhĩ từ mép tấm nệm nằm ra mép tấm phản độ năm chục phân mà anh tưởng đi một nửa vòng trái đất. Anh càng yêu lũ trẻ trong ngôi nhà mình.

Ngồi cạnh bậu cửa, sau lưng chống gối kè cao, Nhĩ được nhìn thấy cánh buồm. Con đò, khách qua lại bến sông. Nhĩ nghĩ về vợ anh, đứa con trai của anh. Anh đã tìm thấy được nơi nương tựa là gia đình trong những ngày đau ốm.

Ông giáo Khuyến, cụ già hàng xóm lại sang thăm Nhĩ. Cụ hốt hoàng chợt thấy mặt mũi Nhĩ đỏ rựng lên một cách khác thường. Ngay lúc ấy con đò ngang cũng vừa cập bến.