Giới thiệu về Nguyễn Bỉnh Khiêm (văn mẫu lớp 9)

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), nhà triết học vĩ đại, nhà thơ lớn của Đại Việt trong thế kỉ XVI. Xuất thân trong một gia đình vọng tộc ở Trung Am, Vĩnh Bảo, nay thuộc thành phô Hải Phòng. Ông học giỏi, tài cao đức trọng, nhưng sống giữa thời loạn lạc, nên nuôi chí chờ thời, mãi đến năm 45 tuổi mới đi thi. Năm 1535, đỗ Trạng Nguyên, Làm đại quan của triều Mạc. Ông có câu thơ chữ Hán: “Văn khôi tam thượng tiếu tài sơ” nghĩa là 3 lần đỗ đầu vẫn cười mình tầm thường.

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những nhân tài của nước ta thời phong kiến. Tài năng của ông khiến các thế lực khi đó phải nể phục. Nhiều người tìm đến ông để xin lời khuyên về thế sự. Nguyễn Bỉnh Khiêm là vị trạng nguyên đặc biệt. Ông không nổi tiếng vì thành danh khi còn ít tuổi. Trên thực tế, Nguyễn Bỉnh Khiêm tham dự khoa thi đầu tiên khi tuổi đã ngoài 40. Dân gian cũng không lưu truyền nhiều giai thoại về các màn đối đáp xuất sắc hay tài ứng xử khéo léo của trạng Trình..

Trạng Trình nổi tiếng với vô số tài năng, chẳng thế mà ông được vua quan các triều trọng dụng. Tài chính trị, ngoại giao lỗi lạc, đạo đức thanh cao, tấm lòng vàng ngọc với dân của ông là minh chứng ngời ngời cho một danh nhân đất Việt.  Sau 8 năm làm quan, ông dâng sớ hạch tội 18 tên lộng thần nhưng không được vua Mạc Phúc Hải chấp nhận, ông cáo bệnh từ quan trở về quê . Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn liền với các danh hiệu: Tuyết Giang Phu Tử. Bạch Vân cư sĩ, Trạng Trình…Ông còn là nhà thơ lớn của Đại Việt, để lại 2 tác phẩm thơ: Bạch Vân am thi tập bằng chữ Hán trên nghìn bài, Bạch Vân quốc ngữ thi lập bằng chữ Nôm có vài trăm bài.

Nguyễn Bỉnh Khiêm có nhiều đóng góp cho dân tộc trên nhiều lĩnh vực chính trị, văn hóa, giáo dục… Trong đó, ba câu nói nổi tiếng nhất của ông đã góp phần quyết định vận mệnh của bốn vương triều phong kiến lúc bấy giờ, gồm nhà Hậu Lê, nhà Mạc, chúa Trịnh và chúa Nguyễn. Thuở nhỏ, ông nổi tiếng thông minh, hiếu học. Đến khi trưởng thành, nghe tiếng Bảng nhãn Lương Đắc Bằng nổi danh trong giới sĩ phu đương thời, Nguyễn Bỉnh Khiêm cất công tìm đến bái sư học đạo. Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn lo liệu việc triều chính, giúp vua bàn quốc sự. Khi có chuyện trọng đại, vua thường hỏi ý kiến ông. Việc ông khuyên nhà Mạc lên Cao Bằng đã đi vào sử sách. Không chỉ có tầm nhìn sâu rộng, Tuyết Giang phu tử còn nổi tiếng với khả năng tiên tri. Ngày nay, người đời còn lưu truyền nhiều tiên đoán được cho là của ông và gọi chung là Sấm trạng Trình. Trạng Trình lẳng lặng dẫn sứ giả ra thăm chùa và nói với nhà sư “giữ chùa thờ Phật thì ăn oản”, ngụ ý khuyên chúa Trịnh cứ tôn phò nhà Lê thì quyền hành sẽ giữ được, nếu tự ý phế lập sẽ dẫn đến binh đao.

Câu nói của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã giúp cơ nghiệp nhà Hậu Lê tiếp tục được giữ vững đến tận năm 1788. Nhà Trịnh dù không chính thức ngồi lên báu nhưng nắm được thực quyền trong tay, làm chủ Đàng Ngoài tới hơn 300 năm. Nhân dân cũng tránh khỏi những đợt can qua “nồi da nấu thịt”, chiến tranh chia lìa. Đánh giá về tài năng, đức độ của Trạng Trình, các danh nhân về sau đều dành cho ông sự kính trọng rất lớn. La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp thời Tây Sơn cho rằng “Trạng Trình đã nắm được huyền cơ của tạo hóa”. Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể được coi là người đầu tiên trong lịch sử nước ta nhận thức được tầm quan trọng của việc gìn giữ chủ quyền biển Đông.

Ông giỏi lí học, có tài văn thơ, lo đời và thương dân. Với dân gian, cho tới ngày nay, những giai thoại về ông vẫn còn sống mãi. Đặc biệt là những giai thoại về tài lý số của ông. Ông nổi tiếng ngàn dặm bốn phương là người dự báo chính trị và hoạch định chiến lược cho các triều đại đương thời, là người tiên tri số một của nước ta.Ngoài những sấm kí truyền kì, ông còn để lại tập thơ Nôm “Bạch Vân quốc ngữ thi tập có khoảng 200 bài, và tập thơ chữ Hán “Bạch Vân âm thi tập” trên dưới một nghìn bài. Sau khi từ quan về quê ông mở trường dạy học, dựng quán Trung Tân, lập am Bạch Vân, xưng là Bạch Vân cư sĩ. Ông đã đào tạo được nhiều học trò lỗi lạc như Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Quyện, v.v… Thơ của ông giàu suy tư, triết lí, thể hiện một quan niệm nhân sinh coi trọng nhàn tâm, xa lánh chốn bon chen danh lợi, giàu tình ưu ái. Thơ chữ Hán thì hàm súc, điêu luyện và cao khiết; thơ chữ Nôm thì bình dị, hồn nhiên, đậm đà phong vị dân gian.

Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm hàm súc, điêu luyện, vừa cổ điển, vừa đậm đà phong vị dân gian, giàu suy tư, triết lí, đề cao tình nghĩa, đề cao chữ “nhàn”, xa lánh bon chen danh lợi, yêu hòa bình, lên án chiến tranh. Với dân tộc ta Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ là nhà thơ ông còn là một vị quan sống luôn yêu nước thương dân.