Giới thiệu về Cao Bá Quát và các tác phẩm

Cao Bá Quát sinh năm Kỷ Tỵ 1809, và mất năm Ất Mão 1855, tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường và Mẫn Hiên, người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (ngày nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội), thân phụ là Cao Bá Nhạ, một nhà nho không đỗ đạt gì nhưng có tiếng, ông muốn các con của mình sau này sẽ là những bậc hiền thần, nên đã đặt tên cho hai người con sinh đôi của mình là Cao Bá Đạt và Cao Bá Quát. Cao Bá Quát (1809? -1855) tự Chu Thần sinh tại Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội, mất giữa trận tiền Quốc Oai trong cuộc khởi nghĩa chống triều đình thời Tự Đức… Tự Đức tru di ba họ Cao Bá Quát, thu hồi tiêu hủy văn chương ông. Nhưng ông được lòng dân bảo vệ: một rừng truyền thuyết ca ngợi tài thơ, lòng dũng cảm, trí thông minh và tinh thần thương dân yêu nước của ông. Tác phẩm của ông còn được lưu đến nay là 1353 bài thơ, 21 bài văn xuôi, một số bài ca trù và khá nhiều câu đối.

Theo Từ điển văn học, Cao Bá Quát là người rất bản lĩnh. Ông dù sống trong nghèo khổ nhưng khinh bỉ những kẻ khom lưng, luồn cúi để được giàu sang, và tự tin có thể tự thay đổi được đời mình. Khi ra làm quan, ông muốn đem tài năng giúp đời, nhưng rồi sớm nhận ra có những vấn đề không thể thay đổi. Những lúc thấy bất lực, ông muốn hưởng an nhàn. Nhưng khi chứng kiến nỗi thống khổ của nhân dân ông lại không thể. Cuối cùng, con đường ông lựa chọn là tham gia khởi nghĩa nông dân.

Về sau này, người anh trai sinh đôi của Cao Bá Quát là Cao Bá Đạt đỗ cử nhân, làm tri huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, làm việc thanh liêm, mẫn cán, được dân chúng kính mến, Cao Bá Đạt cũng nổi tiếng có tài văn chương. Còn Cao Bá Quát, ngay từ ngày nhỏ đã nổi tiếng thông minh, học giỏi. Năm Tân Mão 1831, lúc đó Cao Bá Quát 22 tuổi, thi Hương đậu Á nguyên, nhưng khi Bộ duyệt lại, không biết do lỗi gì bị đánh tụt xuống cử nhân đội bảng, và hai lần đi thi hội đều bị đánh hỏng, từ đó Cao Bá Quát buồn không đi thi cử nữa mà đi ngao du non nước. Là một danh sĩ giàu lòng thương dân lo đời, ghét cường quyền và sự thối nát của bọn vua quan triều Nguyễn, năm 1854 Cao Bá Quát tham gia cuộc khởi nghĩa nông dân Mĩ Lương do Lê Duy Cự cầm đầu. Năm 1855, ông bị chết trận trong tư thế lẫm liệt bất khuất hiên ngang.

Dưới thời vua Thiệu Trị, năm 1841, Cao Bá Quát được cử làm Sơ khảo trường thi Thừa Thiên. Trong khi chấm bài, thấy 24 bài văn hay nhưng phạm húy, không muốn vì lỗi nhỏ mà đánh trượt người có tài, Cao Bá Quát cùng Phan Thời Nhạ ngầm lấy muội đèn làm mực chữa bài. Để chứng tỏ phẩm chất thanh cao, tự phụ của Cao Bá Quát, có thuyết cho rằng Ông là tác giả của câu đối ‘Thập tải luân giao cầu cổ kiếm, Nhất sinh đê thủ bái mai hoa’ (Mười năm chọn bạn như tìm thanh kiếm cổ, Một đời chỉ biết cúi đầu lạy hoa mai).  Thật ra, đây là câu đối do Tri phủ Hán Dương Ngài Tuấn Mỹ tặng Phó sứ Nguyễn Tử Giản trong đoàn sứ bộ Vua Tự Đức phái sang triều cống nhà Thanh năm 1868.  Sự kiện này được ghi chép trong Yên Thiều Bút Lục của Nguyễn Tử Giản (1823–1890).  Tuy các nhà nghiên cứu tiền bối đã công bố tài liệu từ năm 1972, nhiều người, nhiều sách báo, kể cả sách giáo khoa, vẫn tiếp tục tương truyền câu đối trên là của Cao Chu Thần tiên sinh!

Việc bại lộ, ông và Phan Thời Nhạ bị tuyên án tử hình. Về sau, cảm phục tài đức của ông, vua Thiệu Trị tha tội chết cho Cao Bá Quát, chuyển sang tống giam. Sau đó 3 năm, ông được cho đi sứ ở Indonesia để lập công chuộc tội.

Cao Bá Quát là nhà thơ lỗi lạc trên thi đàn dân tộc trong thế kỉ 19. Ông để lại trên một nghìn bài thơ chữ Hán và vài chục bài thơ Nôm, và kiệt tác “Tài tử đa cùng phú”. Về sự nghiệp văn học, Cao Bá Quát đã để lại cho đời bộ sách Chu thần thi tập, thơ văn của ông dù viết bằng chữ Hán hay chữ Quốc âm đều có giá trị về nghệ thuật. Những bài ca trú của Cao Bá Quát cũng rất xuất sắc, đặc biệt là bài phú “Tài tử đa tình”, chỉ riêng một bài này thôi, cũng đủ nêu cao tên tuổi của Cao Bá Quát với nền văn học nước ta. Các tác phẩm văn học của Cao Bá Quát sau này được sưu tầm và khắc in là Cao Chu Thần văn tập, có giá trị văn chương, học thuật cao của tiến trình lịch sử văn học cận đại Việt Nam.

Không những viết chữ đẹp, Cao Bá Quát còn nổi tiếng về tài văn thơ. Ông có thể “xuất khẩu thành thơ”, làm vế đối mọi lúc, mọi nơi, ý tứ rất chuẩn mực, sắc sảo. Tài năng văn chương của ông khiến ngay cả ông vua hay chữ Tự Đức cũng phải thán phục. Vua trực tiếp ca ngợi ông và người bạn Nguyễn Văn Siêu rằng: “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán”, nghĩa là văn như Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát, đời Tiền Hán không có ai bằng.