Bà đẻ có được ăn mít không? ăn thế nào cho đúng cách tốt sức khoẻ

Bà đẻ có được ăn mít không? ăn thế nào cho đúng cách tốt sức khoẻ là câu hỏi được đặt ra rất nhiều khi mà tâm lý ai cũng mong muốn được ăn uống 1 cách thoải mái. Ai cũng biết sau khi sinh nở người mẹ phải kiêng cữ rất nhiều món để tránh ảnh hưởng đến sữa nuôi em bé nhưng làm thế nào để có thể biết được thực phẩm ăn dinh dưỡng tốt nhất. Hãy cùng giaidap.com.vn khám phá thông tin chi tiết qua bài viết dưới đây

Dinh dưỡng cho bà đẻ rất quan trọng

Chế độ ăn uống lành mạnh của bà đẻ góp phần quan trọng vào sức khỏe và sự phát triển của trẻ. Muốn bé phát triển khỏe mạnh toàn diện thì mẹ cực kỳ cần chú ý bổ sung đúng chất dinh dưỡng cho bà đẻ vào từng thời kỳ phát triển của em bé. Chế độ ăn cho bà đẻ có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của em bé, tạo nguồn sữa mẹ và sự phát triển của trẻ sau này.

Phần lớn các bà đẻ đều cần dung nạp thêm nhiều chất đạm, một số loại vitamin và khoáng chất nhất định như axit folic, sắt và đặc biệt nhiều canxi. Nếu chế độ dinh dưỡng hiện tại của bạn chưa đáp ứng được những tiêu chí trên, bạn nên điều chỉnh lại ngay chế độ ăn uống của mình để đảm bảo cho sức khỏe và sự phát triển của thai nhi. Chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ sau sinh đặc biệt quan trọng đối với cả bà mẹ lẫn thai nhi.

Chế độ dinh dưỡng, vận động, nghỉ ngơi hợp lý, đầy đủ sẽ giúp trẻ nhỏ phát triển tối ưu, bà mẹ đủ sức khỏe để sinh con, nuôi dưỡng và chăm sóc con. Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy tình trạng sức khỏe, dinh dưỡng của bà mẹ có ảnh hưởng trực tiếp đến con từ khi còn là bào thai đến khi trẻ trưởng thành.

Giá trị dinh dưỡng của mít

Mít là 1 loại cất cây với thân ngoài sần sùi màu xanh bên trong ruột màu vàng, mít chín có vị ngọt thanh quả to. Mít chứa thấp chất béo bão hòa, cholesterol và natri tốt cho tim mạch, và là một nguồn cung cấp vitamin C và mangan dồi dào. Theo nghiên cứu mới đây của các chuyên gia dinh dưỡng hàng đầu Ấn Độ, trong quả mít chứa đầy đủ các loại vitamin và khoáng chất thiết yếu như protein, đường thiên nhiên, kali, sắt, magie, canxi, chất xơ, nhóm vitamin B (gồm vitamin B1, B2, B6), vitamin C…Những khoáng chất và vitamin này giúp tăng cường hệ miễn dịch cho cơ thể, tốt cho hệ tiêu hóa, tim mạch, da, tuyến giáp, ngăn ngừa ung thư.

Ngoài ra, các chuyên gia dinh dưỡng còn tìm thấy nhiều chất phytonutrient, lignans và saponin có thể ức chế quá trình ung thư, chống tăng huyết áp, viêm loét dạ dày, đồng thời cung cấp nguồn sinh lực dồi dào cho cơ thể khi mệt mỏi hoặc vừa mới ốm dậy.

Bà đẻ có nên ăn mít?

Với những tác dụng được nêu trên thì chúng ta thấy rằng mít dường như không có ưu điểm hay tác hại nào đến sức khỏe. Nhiều người còn quan niệm rằng, mít ăn vào sẽ nóng, không tốt cho quá trình tiết sữa cũng như cho trẻ bú. Thế nhưng quan niệm này sai nhé, mít không hề nóng, bổ sung mít vào những bữa ăn không chỉ giúp người mẹ sau sinh ngon miệng hơn mà cung cấp nhiều dưỡng chất cho cơ thể.

Đối với việc sau sinh ăn mít,  các chị em nên ăn sau sinh được 3 tháng. Thời gian mới sinh dậy cơ thể dường như mất sức hoàn toàn và sức đề kháng yếu, đường ruột cũng rất kém, vì vậy cần tránh ăn trong thời gian 3 tháng đầu này để tốt cho 2 mẹ con nhé. Qua 3 tháng, cơ thể mẹ dần dần được phục hồi và trở lại như trước, đồng thời trẻ cũng có những bước phát triển hơn, vì vậy mẹ sau sinh có thể ăn mít ở giai đoạn này.

Những thực phẩm gây nóng bà đẻ nên chú ý khi ăn

Dưa muối

Các loại dưa muối nói chung (kể cả cà muối) là thực phẩm được chế biến bằng cách sử dụng muối trộn chung với một số thân, lá, hoa, quả, củ để làm lên men chua dưới tác dụng của một số vi sinh vật. Ăn dưa muối đem lại nhiều tác dụng tích cực cho cơ thể và bữa ăn hàng ngày. Dù có những tác dụng như trên nhưng nếu không biết sử dụng đúng cách thì dưa muối đôi khi lại trở thành thứ gây hại. Bởi vì trong một vài ngày đầu muối dưa, vi sinh vật sẽ chuyển hóa nitrat trong các nguyên liệu thành nitric, làm hàm lượng nitric tăng cao, độ pH giảm dần (có nghĩa là độ chua tăng dần lên). Ăn dưa ở giai đoạn này thì có vị cay, hăng, hơi đắng vì chưa đạt yêu cầu. Loại dưa này chứa nhiều nitrate, ăn vào rất có hại cho cơ thể.

Măng tươi

Trong măng tươi có hàm lượng Cyanide rất cao, khoảng 230mg/kg măng củ. Khi người ăn phải măng có chứa nhiều Cyanide, dưới tác động của các Enzym đường tiêu hóa, Cyanide ngay lập tức biến thành Acid Cyanhydric (HCN), là một chất cực độc với cơ thể. Trong cơ thể, Cyanide tác động lên chuỗi hô hấp tế bào bằng cách làm bất hoạt các Enzym sắt của Cytocromoxydase hoặc Warburgase, là nguyên nhân gây tình trạng thiếu ôxy tế bào và toan chuyển hóa nặng. Vì vậy mẹ đẻ nên cẩn trọng khi ăn măng tươi.

Ớt, gừng

Gừng ớt gây nóng trong nên dễ gây hiện tượng táo bón. Hoạt chất gingerol trong gừng gây mỏng mạch máu và có thể góp phần gây ra hiện tượng máu đóng cục. Vì thế thai phụ dùng lâu không có lợi. Phụ nữ trong thời kỳ thai nghén có thể dùng gừng nhưng không được quá 4 ngày.

Đu đủ

Đây là loại trái cây có nhiều enzym giúp tiêu hóa tốt, nhưng nó có đặc tính kích thích các cơ trơn hoạt động làm co thắt. Đồng thời kích thích các tuyến sữa gây tiết sữa. Tử cung là một khối cơ trơn và rất mong manh trong 3 tháng đầu thai kỳ. Khi mẹ ăn đu đủ dạng chín hay dạng chưa chín đều có thể làm tử cung co bóp, dễ gây sẩy thai. Do vậy, bà đẻ không nên ăn đu đủ, bất kể dưới dạng nào.